web analytics
 
Chuyên mục : chính trị- xã hội; tin tức- sự kiện; tin tức- sự kiện; video
|

Không sự thật nào là đơn giản

13 Phim tài liệu của Đoàn Hồng Lê và Trương Vũ Quỳnh (VTV Đà Nẵng).

          Cuộc trở về sau gần nửa thế kỷ của phóng viên chiến trường cựu binh Mỹ Ronald Haeberle, tác giả những bức ảnh Mỹ Lai chấn động địa cầu cùng với “cậu bé Mỹ Lai” Trần Văn Đức không chỉ hé mở sự thật trái ngược về bức ảnh “hai đứa trẻ Mỹ Lai” gây nhiều tranh cãi, mà còn khơi gợi lại nhiều sự thật Mỹ Lai khác.

          Những sự thật không đơn giản được bóc trần khởi đầu từ những trang hồi ký xúc động của “cậu bé Mỹ Lai” Trần Văn Đức cùng loạt phóng sự trên blog Trương Duy Nhất- Một góc nhìn khác.

          Cảm ơn hai nhà báo Đoàn Hồng Lê và Trương Vũ Quỳnh đã gửi tặng tập phim tài liệu ý nghĩa này.

[youtube]http://www.youtube.com/watch?v=yApu_9OwGwE&feature=relmfu[/youtube]

          Xin giới thiệu thêm vài clip do cháu Trần Văn Viễn (con trai Đức) quay trong cuộc trở về lịch sử của Ronald Haeberle và Trần Văn Đức:

[youtube]http://www.youtube.com/watch?v=SdY8Chdx500&feature=g-upl[/youtube]

[youtube]http://www.youtube.com/watch?v=UXEpd91yOdY&feature=g-upl[/youtube]

          Ronald Haeberle và Trần Văn Đức tại "con đường đẫm máu"

[youtube]http://www.youtube.com/watch?v=-0sYLXVmnQ0&feature=g-upl[/youtube]

          Tại nơi chụp bức ảnh lịch sử hai anh em Trần Văn Đức- Trần Thị Hà

[youtube]http://www.youtube.com/watch?v=1Bo5rJUpsaM&feature=g-upl[/youtube]

Ronald Haeberle ở núi Chóp Vung

Nút chia sẻ:

11 phản hồi Cho “Không sự thật nào là đơn giản”

  1. Trần Văn Đức viết:

    Germany ngày 25.09.2012.
    Kính gửi nhà báo Trương Duy Nhất !
    Tôi Trần Văn Đức.
    BQL Khu chứng tích Sơn Mỹ và Sở VH TT DL Quảng Ngãi chưa tin bức ảnh “Người anh che đạn cho đứa em“ là của anh em Đức Hà,rồi họ sẽ tin qua những chứng cứ rành rành,qua hơn vài chục người nhân chứng sống thấy Đức ôm Hà chạy thoát khỏi cuộc thảm sát lịch sử,thậm chí có nhân chứng còn đủ quyền trên nguyên tắc pháp lý, được nói tên của hai em bé trong bức ảnh lịch sử trưng bày trong nhà chứng tích Sơn Mỹ từ năm 1976,mà đã từng chú thích sai Trương Bốn,Trương Năm…Và qua sự có mặt,lý giải của nhà chụp hình Ronald Haeberle tác giả của bao tấm hình lịch sử mang tên “My Lai”.
    Tôi đang đợi sự trả lời khách quan nhất,trung thực nhất từ phía các cơ quan chức năng của Quảng Ngãi và Bộ VH TT DL,nhưng tôi vô cùng buồn bã và quá thất vọng…đến hôm nay mà vị giám đốc khu chứng tích Sơn Mỹ Phạm Thành Công vẫn còn dùng thói côn đồ,cường hào đàn áp bà con là nạn nhân của vụ thảm sát đẫm máu năm xưa cùng thân nhân của họ,anh Trương Hoài Nam là anh ruột của Trương Bốn,Trương Năm.Vì anh không chấp nhận tấm hình hai em bé trưng bày trong nhà chứng tích Sơn Mỹ là em của anh,nên anh bị mất việc làm.Con của một số nạn nhân nói lên sự thật lịch sử ngày 16.3.1968 bị đàn áp,thậm chí không được học lớp cảm tình Đảng,không được vào Đảng,con đường đang nâng cấp đắp đất cho cao hơn trước nhà cô Hoa,cô Cúc bị bỏ dỡ dang không được phép thi công tiếp vì chính quyền cho rằng hai gia đình này theo phe phản động,gia đình Đức và một số gia đình có liên quan qua vụ khiếu nại về bức ảnh My Lai bị hăm dọa,Bà Trương Thị Lê bị Ông Công cấm không được giao du thăm hỏi mọi người hàng xóm,nếu bà còn qua lại với một số người mà Ông đã nêu tên,thì ông sẽ tác động chính quyền cắt tiền trợ cấp tuổi già của bà.
    Tại sao Ông Công không khiếu nại ngược lại, mà cứ vu khống mọi người và xúi giục chính quyền địa phương hành xử sai với chức năng của họ?
    Công luận sẽ nói gì khi biết rằng hơn một nữa số nạn nhân còn sống sót tại hiện trường sáng 16.3.1968 ở Sơn Mỹ,mà mãi đến nay vẫn còn giấu diếm không đưa ra công luận,bao thuyết minh của cán bộ bảo tàng trước công luận sai sự thật,thậm chí thuyết minh cuộc tấn công của quân đội Mỹ sáng sớm định mệnh ấy cũng sai rất nhiều chi tiết quan trọng.
    Comment của tôi,thay lời khẩn cầu với bao cơ quan chức năng sớm vào cuộc,để hạn chế nhiều oan nghiệt.
    Chân Thành cám ơn.
    Trần Văn Đức

  2. Thái Xá Điền viết:

    Nhờ có Trương Duy Nhất, Trần Văn Đức mà tôi được biết thêm về sự thật ở Mỹ Lai. Xin chia buồn với Đức về những đau thương mất mát trong chiến tranh và những rắc rối, thiệt thòi mà Đức, gia đình và bà con Mỹ lai đã phải chịu đựng lâu nay, khi chiến tranh đã đi qua bốn chục năm rồi.
    Còn ở quê hương tôi ở ĐỒng Lộc, hồi chiến tranh phá hoại, sự gian nan ác liệt ai ai cũng biết rồi. Thế nhưng nhiều sự thật trong và sau chiến tranh không được người đời hiểu cho đúng với thực chất của nó. Nhân đây xin được bàn đôi điều về AHLLVT Vương Đình Nhỏ (VĐN).
    Năm 1968 là đỉnh điểm của chiến tranh ném bom của Mỹ xuống M. Bắc VN và Đồng Lộc nói riêng. Thời điểm ấy giặc Mỹ bắt đầu thả nhiều bom nổ chậm xuống Đồng Lộc và các vùng lân cận. Và VĐN đã nổi lên từ đó. Bằng trí thông minh, sáng tạo và lòng dũng cảm, gan dạ anh đã phá nổ, làm tê liệt hàng trăm quả bom các loại, giúp cho TNXP, bộ đội và dân quân khắc phục giao thông thông suốt đêm ngày. Ở đâu có bom nổ chậm cần phá là có VĐN, được gọi và anh có mặt, không quản ngày đêm. Đối với nhân dân quê tôi và bộ đội, TNXP lúc đó thì VĐN là con người anh hùng của Ngã ba Đồng Lộc. Thế nhưng người ta đã chọn những tấm gương khác, không chọn VĐN, vì anh có vấn đề về hôn nhân. Và VĐN đã trở về với đời thường với gia đình, trong khó khăn nghèo đói. Mãi sau này, vì phải kiếm kế sinh nhai, nuôi vợ con anh đã phải theo người dân quê tôi đi đào bom chưa nổ dưới lòng đất lên phá ra bán thuốc nổ và gang sắt lấy tiền! Rồi “sinh nghề, tử nghiệp”, lần đi xa vào Khe Sanh đào phá bom kiếm sống, anh đã bị bom nổ tan thân xác mình, và anh đã được gia đình, bạn bè đã đưa anh về quê chôn cất.
    Cái đáng nói ở đây là, sau khi anh ra đi vì đói nghèo, vì khốn cùng như thế, anh đã (mới) được truy tặng AHLLVT!!!

  3. Hà Nội 2 viết:

    Kính đề nghị ông Đức và nhà báo TDN tóm tắt lại vụ việc này cho tôi hiểu chút. Xem clip tôi chẳng hiểu mô tê chi cả 🙁

  4. @ Hà Nội 2: Mời bạn bấm vào chuyên mục “bút ký-phóng sự” tìm loạt bài về Mỹ Lai đọc. Cảm ơn.

  5. Anonymous viết:

    Đảo lộn sự thật , cả đạo đức ,nhân cách của con người . Trong một xã hội dối trá làm người dân mất niềm tin . Mọi sự thật bị bưng bít trắng trợn , dù cho có nhân chứng , vật chứng hẳn hoi !?

  6. gia trang viết:

    Tại sao lại có những loại người máy móc đến kỳ quái thế nhỉ?
    Họ không tìn vào người sống, người việt lại tin vào một dòng chú thích ất ơ của người nước ngoài nào đó.

  7. Hà Nội 2 viết:

    Tôi đã đọc và cũng tạm hiểu. Cám ơn!
    Trong chiến tranh, chuyện nhà báo viết nhầm là bình thường. Nhưng cái không bình thường của những người đang sống trong thời bình là không chịu động não.

  8. Anonymous viết:

    com

  9. thanh viết:

    Trich!
    ….Hơn 40 năm qua, không có khẩu hiệu nào để người ta có thể nhận ra để nhớ về không gian khủng khiếp đã bao trùm thôn 4 (Tư Cung) của Mỹ Lai, Việt Nam.
    Nằm ở vùng ngoại thành cách thành phố Quãng Ngãi 12km, Mỹ Lai được chia thành 4 thôn tụ lại thành Mỹ Sơn, thuộc huyện Sơn Tịnh. Mỹ Sơn là nơi xảy ra hành động tàn ác gây nhức nhối trong lòng những người đã bị thu hút bởi sự kiện xáo động diễn ra chỉ trong 4 giờ này, một vụ thảm sát được đề cập đến như một trong những tội ác cực kỳ ghê tởm nhất trong lịch sử hiện đại.
    Giờ thì bạn có thể tưởng tượng tôi kinh ngạc đến thế nào khi được người bán vé du lịch chào đón trong lúc trả tiền với câu nói “Đón mừng bạn đến với Mỹ Lai, Holocaust[] của Việt Nam.”
    Điều này đối với tôi thật bất ngờ. Ý tưởng được “đón mừng” ở một nơi chôn cất tập thể chưa bao giờ đến với tôi trong đầu. Giọng nói của cô ta làm cho tôi có cảm tưởng rằng mình sắp trở thành một người nữa trong con số đóng góp cho ngành du lịch tưởng-nhớ-tội-diệt-chủng.
    Nếu nụ cười ấy có tươi thêm tí nữa, đây có thể là một khu ma quỷ trong một hội chợ văn hóa giải trí.
    Có thể đó là một buổi sáng ế ẩm và cô bán vé cực chẳng đã cần phải khiến không khí tươi tắn hơn trong lúc khách hàng thưa thớt, thành thật tìm cách để khiến cuộc thăm viếng của mọi người trở nên đáng nhớ. Trước đó thì anh Billy, tài xế xe ôm của tôi, đã cố gắng làm tôi cười với những chuyện vui dí dỏm (black humor) mà tôi đón nhận một cách nghiêm trọng hơn anh ta dự tính. Anh ta có vẻ ngạc nhiên khi có được một hành khách Tây phương không phải từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, anh ta đảm bảo rằng bởi vì tôi là người Úc châu, sẽ không có tai nạn xe cộ nào sẽ xảy ra. Hôm đó thật là một ngày may mắn cho tôi.
    “Tại sao anh lại muốn đến Mỹ Lai? Vào mùa này, không có nhiều khách du lịch đến đây,” anh ta hét to trong lúc phóng xe ngang qua các trẻ em học sinh và người đi xe đạp trên đường phố. Tôi giải thích mục đích viếng thăm của tôi là để nới rộng sự hiểu biết và lòng tôn trọng của tôi đối với lịch sử chiến tranh của đất nước này. Khi tôi đề cập đến việc tôi yêu thích Việt Nam hơn những nơi khác mà tôi đã từng đến, Billy tấp xe vào lề đường và dừng lại. Anh ta nhe hàm răng nhuộm màu trầu cười và trấn an tôi rằng anh ta sẽ “chở tôi về lại khách sạn trong trạng thái còn thở.”
    Trước khi tôi có thể trả lời gì, thậm chí có thời gian để suy nghĩ tại sao anh ta lại nói như thế, Billy rồ ga chạy tiếp.
    Giữa những khoảng đường dằn, Billy nói cho tôi biết số lượng người ngoại quốc đến Quãng Ngãi gia tăng nhiều trong khoảng thời gian kỷ niệm 40 năm vụ thảm sát vào tháng 3. Anh ta nói rằng nhiều người đã đến với máy quay phim để quay cho đài truyền hình và đặt vòng hoa tưởng niệm.
    “Đó là thời điểm duy nhất mà người ta quan tâm đến chúng tôi. Những người này đã ở đâu trong suốt 40 năm qua? Người Do Thái và người Ả Rập kêu gọi chúng tôi hãy tưởng nhớ những người dân của họ vì những người này đã bị sát hại trong Holocaust. Khi người Phi châu bị giết, cả thế giới khóc cùng họ. Kể cả Cam Bốt cũng được quan tâm hơn vì Khờ Me Đỏ. Nhưng không ai kêu gọi tưởng nhớ cho chúng tôi, chúng tôi cứ tiếp tục sống.” anh ta nói bằng giọng mỉa mai. Về cảm nghĩ anh ta có cho rằng sự kiện Mỹ Lai là một Holocaust hay không, anh ta đối đáp, “Vâng, hơi ngạt, bắn giết” – thể hiện bằng những tiếng “Bang! Bang!” -, “giết bằng dao găm. Tất cả đều như nhau thôi.”
    Tôi suy nghĩ rất nhiều về ý nghĩa của 3 từ cuối trong câu nói của anh ta. Có khi nào vì việc thiếu vắng từ ngữ tượng trưng như người ta vẫn thường dùng hiện nay mà sự tàn phá ở Mỹ Lai không được người ta quan tâm đến nhiều? Vào năm 2000, tờ Guardian báo cáo về một vụ kiện tội phỉ báng mà trong đó, tờ Living Marxism đã thua đài truyền hình ITN của Anh đối với việc đăng tải hình ảnh của một người đàn ông Bosnia được chụp trong cuộc chiến Balkan cùng với những bài viết sau đó đã khiến dân chúng nghĩ sai lệch về việc tội diệt chủng thật sự có xảy ra hay không. Về nạn diệt chủng ở Rwanda, tờ Living Marxism đã viết rằng Rwanda là “một quốc gia kiên quyết trưng bày bằng chứng được xem là ‘tội ác diệt chủng’ cho tất cả những du khách xem,” trong lúc tuyên bố rằng “thành phần quá khích Hulu đã thất bại trong việc sử dụng kỹ nghệ giết người hàng loạt của Đức Quốc Xã, cho nên không thể nói rằng tội ác diệt chủng đã xảy ra ở Rwanda.”
    Việt Nam tuy đã không bị thảy hơi độc, nhưng tôi nghĩ họ đã bị dội bơm xăng và chịu đựng hầu như tất cả các loại đạn dược. Không gian tĩnh lặng đúc kết bởi những cánh đồng ngô bát ngát và ruộng lúa xấp xỉ nước tất cả chỉ là một tấm bình phong. Nếu mảnh đất này có thể lên tiếng và nói lên tất cả những gì nó đã gánh chịu trong suốt cuộc chiến, thì sao?
    Đi qua cổng chính của Khu Chứng Tích Sơn Mỹ, tôi mua cho Billy một ly trà đá với hy vọng thuyết phục anh ta đi vào với tôi vì không gì tốt hơn kiến thức của người dân địa phương. Nhưng anh ta có ý kiến khác.
    “Hãy thuê một người hướng dẫn. Tôi đã có chổ trú nắng và một ly giải khát,” anh ta nói thẳng.
    Tôi đứng đó với vẻ mặt thương hại của một chú cún con, như một đứa trẻ không nhận được quà Giáng Sinh, hy vọng anh ta sẽ chuyển ý. Thay vào đó, anh ta nói thêm rằng nếu anh ta phải đi theo mỗi người khách mà anh ta chở đến khu chứng tích này, “nó có vẻ như than khóc ở bia mộ của những người tôi chưa bao giờ gặp. Nó sẽ mất đi ý nghĩa. Tôi đi vào trong ngày riêng của tôi cho để cảm thấy quan trọng hơn.” Billy không hề nói cho tôi biết ngày riêng đó là ngày nào.
    Với những lời ấy, hy vọng gặp riêng một người sống sót trong vụ thảm sát phai đi phần nào. Nhưng khi đã lặn lội xa như thế để đến đó và tìm hiểu được thêm nhiều thứ, tôi tiếp tục hy vọng và khả năng gặp gỡ một vị cao niên sống ở Mỹ Lai bằng lòng chia xẻ thái độ tha thứ và cho tôi thực hiện một buổi phỏng vấn. Theo Billy nói thì có không đến 12 người sống sót sau vụ thảm sát đó. Sự cảm hứng của tôi bắt nguồn từ đại sứ thiện chí của UNESCO bà Kim Phúc, người đã bị phỏng cấp ba sau một đợt tấn công bằng bom xăng bởi chiến đấu cơ miền Nam VN tại thôn Trảng Bàng gần Sài Gòn lúc bà lên 9.
    Trong nhiều năm dài, tên tuổi của người đã hạ lệnh tấn công là một bí ẩn cho đến khi cựu quân nhân Không Quân Hoa Kỳ ông John Plummer (hiện trở thành mục sư tại nhà thờ Baptist ở Purceville, bang Virginia) tự nhận mình là người đã “dội bom” trong lúc bà Kim đang đọc diễn văn thúc đẩy hòa bình tại Hoa Thịnh Đốn vào dịp Lễ Cựu Quân Nhân Việt Nam năm 1996. Sau khán đài, bà Kim đã tha lỗi cho một Plummer đầy xúc cảm về hành động của mình 24 năm trước. Bà Kim Phúc hiện nay sống với chồng và con tại vùng ngoại ô Toronto, Gia Nã Đại. Việc tiếp chuyện được với bà ta là việc tôi không nghĩ tới, nhưng có thể hôm nay là ngày may mắn của tôi.
    Với nguồn cảm hứng đó, tôi đến thăm ngôi làng được tái dựng lại với vài căn nhà và những chòi nhỏ. Mỗi căn nhà bao gồm 1 gian để ăn uống và ngủ, một sân nhỏ phía sau để nuôi heo, gà vịt, hoặc trâu để cày bừa. Nhiều ngõ với những dấu chân loạn xạ tượng trưng cho dân làng chạy trốn cuộc đuổi bắt cùng với dấu giày của quân đội tượng trưng cho mối đe dọa của binh lính. Những vỏ đạn được đặt rãi rác tượng trưng cho sự tàn phá của súng đạn. Hình ảnh gia súc như mèo, chó, và heo bị bắn giết được đặt khắp nơi. Nhiều cây bồ đề được dựng lên với các bảng treo ghi tên thành viên các gia đình bị thảm sát. Ngôi làng tái dựng này trở thành một nơi trang nghiêm và hoang vắng. Phía sau đó là một bức tường tượng trưng cho sự hòa giải, một biểu tượng nghệ thuật đóng góp bởi người dân Việt Nam và Hoa Kỳ qua nhiều năm như là một cử chỉ hàn gắn để ghi nhớ những gì đã xảy ra trong quá khứ và nguyện sẽ cùng hướng tới trong tình bằng hữu.
    Cũng như bài diễn văn của bà Kim, bức tường này là biểu tượng được thiết lập để mọi người có thể hướng tới.
    Đi nhanh vào trong khu chứng tích để trốn chạy cái ẩm của không khí bên ngoài, tôi bị thu hút bởi một tấm bảng lớn ghi tên tuổi của từng nạn nhân từ 1 đến 82 tuổi. Các món sở hữu cá nhân như hình ảnh, giấy tờ tùy thân, thư viết tay, và trang sức cũng được trưng bày. Vài hình ảnh phụ nữ trẻ được trưng bày tại đây là nạn nhân của “nhiệm vụ kép của lính có thâm niên” (double veteran duties), tiếng lóng mô tả việc binh lính hãm hiếp một phụ nữ (có lúc nhiều lần) trước khi giết chết nạn nhân. Tôi chăm chú nhìn các tấm ảnh của một cô gái trẻ và nhớ đến 1 đoạn của Jonathan Neal trong “A People’s History of the VietNam War” (Lịch Sử Một Dân Tộc về Cuộc Chiến VN):
    “Cưỡng hiếp không xảy ra bởi vì bản tánh binh lính là như thế. Nó xảy ra khi tướng lãnh dung túng nó từ phía trên.”
    Tôi hối hận vì đã đem theo những quyển sách của mình làm vật bổ sung, và tôi ước rằng mình rất ngây thơ về tất cả mọi sự việc để việc học hỏi, không phải để chứng minh, sẽ là mục đích đầu tiên mà tôi đến đây. Sự im lặng đè nặng lên không khí vốn đã không lành mạnh này đôi lúc thật giống với một nhà xác. Tuy nhiên, tôi không đơn độc nơi đó. Cùng hiện diện với tôi trong khu chứng tích này là 30 người từ một nhóm du khách đến từ Hà Nội. Họ bước chậm rãi, xem xét từng nơi trưng bày, nghiêm trang tôn trọng sự chịu đựng của quá khứ như chính họ đang khai quật những ngôi mộ. Không ai nói một tiếng nào cả. Họ trao đổi bằng ánh mắt, thỉnh thoảng nhìn xuống đất trước khi bước sang ô trưng bày khác. Trong lúc tôi bước quanh khu chứng tích, một người đàn bà tự xưng là nạn nhân sống sót vụ thảm sát Mỹ Lai hỏi tôi có cảm giác gì khi đến đây. Bà ta có vẻ còn trẻ nhưng lại tự nhận là đã trong lớp tuổi 50.
    “Ông có cảm giác gì?” bà ta hỏi tôi. Tôi cho rằng bà ta muốn biết xúc cảm của tôi về sự tàn ác của thảm kịch Mỹ Lai.
    “Kinh tởm (sickened),” tôi trả lời. Có lẽ bà ta nghĩ tôi cần một bác sĩ vì bà ấy sờ vào trán tôi.
    “Không, tôi chỉ bức xúc khi nhìn vào những chuyện khủng khiếp xảy ra nơi này.” Tôi trả lời.
    “Vâng. Lính Mỹ làm nhiều điều xấu với người dân chúng tôi. Xin ông hãy hiểu họ rất tàn ác. Tôi hy vọng nơi này thay đổi cách suy nghĩ của ông về cuộc chiến với Hoa Kỳ,” bà ta nói, đề cập đến tên gọi mà người Việt dùng để gọi cuộc chiến VN. “Đất nước chúng tôi không xâm phạm Hoa Kỳ. Họ đến đây, họ nghĩ họ có thể thắng. Nhưng chúng tôi đã dạy cho họ một bài học.”
    “Vậy bà chính là nạn nhân sống sót của thảm kịch Mỹ Lai?” Tôi hỏi, lòng hoài nghi bà ta là một hướng dẫn viên muốn kiếm chác hoặc chỉ là một người nói láo.
    “Ở Việt Nam, nếu ông còn sống sau chiến tranh, ông là 1 kẻ sống sót. Vì ai cũng đánh chúng tôi cả. Nhưng không ai chiến thắng chúng tôi cả.” Đó là câu trả lời của bà ta.
    “Tôi hỏi rằng bà có phải là nạn nhân sống sót trong vụ thảm sát Mỹ Lai hay không?” Tôi hỏi lần nữa.
    “Phải, tôi sống gần Mỹ Lai. Đây là Holocaust của chúng tôi.” Chẳng lẽ bà ta hy vọng sẽ kiếm được tiền khi giả làm nạn nhân sống sót của sự kiện xảy ra năm 1968? Tôi có thể diễn kịch với bà ta và làm ra vẻ như tin vào những gì bà ta nói, chỉ để vạch ra sự dối trá trong đó. Nhưng nhu cầu được tiếp chuyện với một nạn nhân sống sót quan trọng hơn, tôi không nghĩ ai đó lại giả dạng làm người sống sót sau một thảm kịch.”
    Tôi kết luận bà ta là một kẻ lừa đảo.
    Cuối cùng thì một nhân viên rảo bước đến và tôi một lần nữa tự giới thiệu mình và cho anh ta biết rằng nhiều người trên thế giới cần biết đến những câu chuyện từ một nhân chứng sống. Lúc đầu, cơ hội có được một cuộc phỏng vấn rất tốt, nhưng linh tính đó của tôi không tồn tại được lâu.
    “Chúng tôi chỉ nói chuyện với những Cty truyền thông lớn. Anh không quan trọng.” Lời nói đó đè bẹp tính ngông cuồng trong tôi như một chiếc bánh ép.
    “Tôi đã đi nửa vòng thế giới đến đây để nghe câu chuyện của họ, không phải của anh.” Tôi nói.
    Để mắt đến nhóm du khách đang đi ngang qua, người nhân viên trả lời với tôi: “Người dân sống ở đây đều công nhận Mỹ Lai là Holocaust của Việt Nam.”
    Tôi bắt đầu bực mình, tôi lớn tiếng nói, “Tôi muốn nghe chuyện họ kể, nhân chứng sống, nói, không phải anh.” Lúc đó, tất cả mọi người đều lắng nghe tôi nói.
    Không biết vẻ mặt hoặc lời nói của tôi có chứa đựng gì mà sau đó vài câu tiếng Việt được trao đổi qua lại giữa người nhân viên và vài phụ nữ trung niên trong nhóm du khách. Họ nói vài câu, gật đầu với nhau và trừng mắt nhìn tôi trước khi lay hoay bỏ đi tiếp tục cuộc du hành của họ. Các tờ báo lá cải sẽ có nhiều bài nóng với sự kiện này.
    Và chủ đề của bài viết đã bắt đầu hiện lên trong đầu tôi, một trong những tiêu đề đó là Kẻ Chối Bỏ vụ Holocaust Bị Vạch Mặt ở Mỹ Lai, vì tôi không chấp nhận lời nói của một hướng dẫn viên / có thể là thông dịch viên / cũng có thể là kẻ làm tiền không nghi ngờ gì cả. Đối với bà ta thì mọi chuyện là quyền lực; còn tôi, tính xác thực. Quan trọng hơn nữa, sự kiên nhẫn của tôi cuối cùng cũng đã kiệt quệ. Chỉ còn lại một việc để làm; đó là việc thắp nhang trước tượng đài biểu tượng cho một người mẹ bất khuất ôm một đứa con của bà ta vào lòng trong lúc dân làng bị giết hại.
    Sau khi cầu nguyện cho linh hồn của người quá cố, tôi lật quyển “4 Giờ Tại Mỹ Lai” của tôi ra một lần cuối và đọc lại câu chuyện của Trương Thị Lê, một người đàn bà 30 tuổi của năm 1968, người đã mất 9 người thân trong ngày định mệnh đó. Bà ta sống sót cuộc thảm sát đẫm máu bằng cách nằm ép giữa hai thi thể, trốn khỏi được chỉ để chứng kiến thân xác của người lẫn vật nằm rãi rác, và một thôn làng bị dở hoang tàn sau khi binh lính bỏ đi. Bóng ma của hơn 500 linh hồn đã thắng được trận chiến của họ trong mục đích đuổi tôi ra khỏi khu chứng tích ấy, vì đã đến lúc tôi phải trở lại thành phố.
    Một lần nữa, Mỹ Lai trong chốc lát lại sẽ trở thành một thôn nhỏ hẻo lánh, được thay thế bởi tiếng trẻ nít cười đùa khi cùng bước trên đường trong các bộ đồng phục, với những cánh đồng ngô và ruộng lúa làm khung cảnh phía sau. Những con đường bụi đầy ổ gà được thay thế bởi nhựa trãi đường khi phía ngoài của thành phố Quãng Ngãi hiện ra ở phía chân trời. Tôi không còn bị vây quanh bởi tiếng súng, tiếng la hét, và những vệt máu loang lổ của một khoảnh khắc kinh hoàng trong lịch sử. Các xe máy và người bán hàng rong bán mì và kem lạnh hòa lẫn với các quán cà phê kết nối mạng internet đông đảo sinh viên. Giữa sự giết chóc của quá khứ, gốc rễ của sự lạc quan đang nẩy nở với những mầm non của tính vị tha.
    © Copyright 2010 David Calleja.

  10. Binh viết:

    16/3/2013 đã sắp đến, tôi cũng tìm đọc lại những sự việc đã kể trên. Chiến tranh qua đi nhiều năm nhưng sự thật về nó vẫn còn là một ẩn số với thế giới. Đây là cũng một trong những sự kiện nổi bật. Cá nhân tôi cảm thấy anh Trần Văn Đức có quyền, một cách chính đáng, đưa sự thật ra ánh sáng, những câu chuyện về chị, về mẹ, về em, về cả bản thân anh trong ngày 16/03/1968 hãi hùng. Nhưng dù trong bức hình là anh Đức và chị Hà, hay là Trương Bốn, Trương Năm hoặc là hai em bé vô danh thì vết thương chiến tranh tưởng đã liền da, nay lại nhức nhối thêm lần nữa. Làng quê yên bình đang hồi phục từng ngày dưới đống tro tàn, nay lại xôn xao. Ronald H. đã dùng từ”assume” để nói về mọi việc, vì chính ông cũng không dám chắc điều này. Sự thật chỉ duy nhất có một, hy vọng sẽ có bài báo từ cả hai góc nhìn: cơ quan chức năng của Quảng Ngãi và gia đình anh Trần Văn Đức. Cuộc thảm sát đã qua gần 45 năm, những bài viết về nó cũng chất chồng theo năm tháng, cả trong nước lẫn ở nước ngoài, năm nào ngày 16/03 ở Mỹ Lai cũng chật ních người, nhưng đời người dân Mỹ Lai vẫn mãi cơ cực. Chúng ta đòi hỏi sự thật phải được phơi bày, nhưng điều đúng đắn cần làm đã được làm chưa?

Để lại hồi âm

Premium WordPress Themes
Free WordPress Theme